Các thiết chế EPR

Ngày đăng 10/02/202210/02/2022

Lượt xem659

Hội đồng EPR quốc gia

Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia

Tổ công tác EPR

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

 

Hội đồng EPR quốc gia

Hội đồng EPR quốc gia được quy định tại điều 88 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý, giám sát, hỗ trợ việc thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Hội đồng EPR quốc gia được thành lập và vận hành theo quy chế do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.  Cơ cấu Hội đồng EPR quốc gia gồm Chủ tịch (là Bộ trưởng  Bộ Tài nguyên và Môi trường), Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Thành phần Ủy viên hội đồng gồm đại diện các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng; đại diện các nhà sản xuất, nhập khẩu; đại diện đơn vị tái chế, đơn vị xử lý chất thải và đại diện tổ chức xã hội, môi trường có liên quan.

Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể, dân chủ, độc lập, công khai, minh bạch, quyết định theo đa số, thành viên kiêm nhiệm và có nhiệm kỳ 3 năm. Hội đồng họp thường kỳ tối thiểu 2 lần/năm để thảo luận và thông qua các kế hoạch, chương trình hoạt động.

Hội đồng có nhiệm vụ thông qua và trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chế quản lý và sử dụng tiền đóng góp hỗ trợ tái chế, thu gom, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, đồng thời đề xuất tiêu chí, các ưu tiên, hình thức thực hiện, mức hỗ trợ tài chính cho các hoạt động tái chế, thu gom, xử lý chất thải trình Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố.

Hàng năm, Hội đồng sẽ thẩm định, biểu quyết thông qua các đề nghị hỗ trợ tài chính được gửi về Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia, thông qua các kế hoạch và báo cáo thực hiện EPR quốc gia.

Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia

Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia (Văn phòng Hội đồng) là cơ quan giúp việc cho Hội đồng EPR quốc gia và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc tổ chức quản lý, giám sát và hỗ trợ việc thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Văn phòng Hội đồng là cơ quan tiếp nhận, quản lý, giám sát đăng ký kế hoạch tái chế, báo cáo kết quả tái chế; quản lý và giám sát việc kê khai số tiền đóng góp hỗ trợ thu gom, xử lý chất thải; quản lý, giám sát và hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế, trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải; điều phối, hỗ trợ các hoạt động thu gom, tái chế, xử lý chất thải; vận hành Cổng thông tin điện tử EPR quốc gia, xây dựng các báo cáo quốc gia về thực thi EPR.

Văn phòng Hội đồng cũng là đầu mối tiếp nhận, tổng hợp và tổ chức thẩm tra hồ sơ đề nghị hỗ trợ tài chính cho hoạt động tái chế, thu gom, xử lý chất thải để trình Hội đồng EPR quốc gia thẩm định phê duyệt; thông báo kết quả hồ sơ phê duyệt và thực hiện việc ký kết hợp đồng hỗ trợ. Bên cạnh đó, Văn phòng Hội đồng còn thực hiện các chức năng khác như nghiên cứu khoa học công nghệ, thông tin, trao đổi, truyền thông, hợp tác, thực hiện các chương trình, dự án.

Văn phòng Hội đồng đặt tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản, hoạt động theo quy định của pháp luật.Bộ Tài nguyên và Môi trường và làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Cơ cấu và chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng được quy định tại Quyết định do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.

Thiết chế Hội đồng EPR quốc gia và Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia

Tổ công tác EPR

Tổ công tác EPR có tên đầy đủ là Tổ công tác tư vấn thúc đẩy thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu đối với các sản phẩm, bao bì, được Bộ trưởng  Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập theo Quyết định số 1612/QĐ-BTNMT ngày 01/06/2020. Tổ trưởng và Thư ký Tổ công tác là cán bộ kiêm nhiệm thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các thành viên trong Tổ công tác gồm một số nhà sản xuất, nhà tái chế, hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức xã hội môi trường và cơ quan Nhà nước có liên quan. Tổ công tác có nhiệm vụ tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường các chính sách, giải pháp hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện trách nhiệm mở rộng đối với các sản phẩm, bao bì.

Trong giai đoạn 2020-2021, Tổ tư vấn tổ chức hàng loạt chương trình đối thoại, tham vấn chính sách để góp ý cho việc xây dựng nội dung về EPR trong Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT. Từ năm 2022, Tổ tư vấn sẽ mở rộng thành viên để huy động sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và bên liên quan, đa dạng hóa hoạt động và tăng cường phối hợp các nguồn lực để hỗ trợ thực hiện EPR tại Việt Nam.

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là cơ quan được ủy thác tiếp nhận các khoản đóng góp và chi trả hỗ trợ liên quan đến trách nhiệm tái chế và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của nhà sản xuất, xuất khẩu được quy định tại Điều 54 và 55 Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Việc quản lý và sử dụng tiền đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được quy định cụ thể trong Quy chế do Hội đồng EPR quốc gia thông qua và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, với nguyên tắc công khai, minh bạch và đúng mục đích.

Trước ngày 31 tháng 3 hàng năm, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hội đồng EPR quốc gia và công khai việc tiếp nhận, sử dụng tiền đóng góp tài chính hỗ trợ tái chế, thu gom, xử lý chất thải của năm tiếp theo.

Đóng góp và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động tái chế

Đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam liên quan đến trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu được quy định tại Điều 81 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Số tiền đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam của từng loại sản phẩm, bao bì (F) được xác định theo công thức: 

F = R x V x Fs

Trong đó:

F là tổng số tiền mà nhà sản xuất, nhập khẩu phải đóng cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo từng loại sản phẩm, bao bì (đơn vị tính: đồng);

R là tỷ lệ tái chế bắt buộc của từng loại sản phẩm, bao bì quy định tại khoản 1 Điều 78 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (đơn vị tính: %);

V là khối lượng sản phẩm, bao bì sản xuất, đưa ra thị trường và nhập khẩu trong năm thực hiện trách nhiệm tái chế (đơn vị tính: kg);

Fs là định mức chi phí tái chế hợp lý, hợp lệ đối với một đơn vị khối lượng sản phẩm, bao bì, bao gồm chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế sản phẩm, bao bì và chi phí quản lý hành chính hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu (đơn vị tính: đồng/kg). (Thủ tướng Chính phủ ban hành Fs cho từng sản phẩm, bao bì và điều chỉnh Fs theo chu kỳ 03 năm một lần, theo tờ trình của Bộ Tài nguyên và Môi trường.)

Tiền đóng góp được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì (quy định tại Cột 3 Phụ lục XXII Nghị định số 08/2022/NĐ-CP) và chi phí quản lý hành chính hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Lãi tiền gửi ngân hàng của số tiền đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được sử dụng cho chi phí quản lý hành chính phục vụ quản lý, giám sát và hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Thông tin tài khoản tiếp nhận và nội dung chuyển tiền đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt động tái chế:

Tên tài khoản: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Số tài khoản: 202266999

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (Chi nhánh Đống Đa)

Nội dung chuyển tiền: Ghi rõ tên nhà sản xuất, nhập khẩu và Mã số thuế

 

Hỗ trợ tài chính cho hoạt động tái chế: Trước ngày 30 tháng 9 hằng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố công khai tiêu chí, ưu tiên, mức hỗ trợ tài chính cho hoạt động, sản phẩm tái chế của năm tiếp theo. Các đề nghị hỗ trợ tài chính của cơ quan, tổ chức thực hiện theo mẫu số 05 Phụ lục IX Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT và gửi về Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia. Hội đồng EPR quốc gia tổ chức thẩm định và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

Văn phòng Hội đồng EPR quốc gia thông báo công khai kết quả phê duyệt  và ký kết hợp đồng hỗ trợ với các cơ quan, tổ chức được nhận hỗ trợ tài chính. Trên cơ sở đó, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thực hiện thanh toán số tiền hỗ trợ cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng ký kết.

Đóng góp và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động xử lý chất thải

Đối tượng, mức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải được quy định tại Điều 83 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Danh mục các sản phẩm, bao bì và mức đóng góp được quy định cụ thể tại Phụ lục XXIII của Nghị định này.

Định kỳ 5 năm một lần, mức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải được điều chỉnh tăng dần theo yêu cầu bảo vệ môi trường. Mức tăng do Thủ tướng Chính phủ quyết định và ban hành theo đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Thông tin tài khoản tiếp nhận và nội dung chuyển tiền đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải:

Tên tài khoản: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Số tài khoản: 202266888

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (Chi nhánh Đống Đa)

Nội dung chuyển tiền: Ghi rõ tên nhà sản xuất, nhập khẩu và Mã số thuế

 

Các hoạt động được hỗ trợ từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam phục vụ hoạt động xử lý chất thải bao gồm:

  1. Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân;
  2. Nghiên cứu, phát triển công nghệ, kỹ thuật, sáng kiến xử lý chất thải rắn sinh hoạt;
  3. Thu gom, vận chuyển, xử lý bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật.

Để được xét duyệt hỗ trợ, các hồ sơ hỗ trợ tài chính cho hoạt động xử lý chất thải (theo mẫu 06 Phụ lục IX Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT) cần được gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 30 tháng 10 hằng năm.